Thuyết Âm Dương, Ngũ Hành có ảnh hưởng hết sức lớn lao trong học thuật và tư tưởng Trung Hoa: Nho, Y, Lý, Số đều thấm nhuần ảnh hưởng của Âm Dương, Ngũ Hành. Các khoa Tử Vi, Tướng, Số, đều triệt để áp dụng thuyết Âm Dương, Ngũ Hành sinh khắc.

Ví dụ như trong khoa Tử Vi, các sao đều phân thành Âm Dương, Ngũ Hành; con người, và 12 cung Tử Vi cũng được phân thành Âm Dương, Ngũ Hành.

Như vậy, tùy theo mệnh con người, tùy theo các sao chiếu mệnh, tùy theo các cung vận hạn mà con người đã trải qua trong một đời, hoặc trong từng năm, từng tháng, từng ngày, ta có thể áp dụng lẽ Âm Dương, Ngũ Hành sinh khắc mà đã đoán định được cát hung một phần nào rồi. ( Đây chính là lý do vì sao chúng tôi yêu cầu Quý vị cung cấp cho chúng tôi Họ và Tên, ngày tháng năm sinh trong việc Xét đoán một Số Sim hợp Vận mệnh tại www.SimPhongThuyHanoi.com)

Khoa Địa Lý cũng rất chú trọng đến Âm Dương Ngũ Hành. Hoặc cho rằng: Sơn Hà Đại Địa bất kỳ cái gì có hình đều là Âm. Còn cái khí không trông thấy được mới là Dương

Hoặc cho rằng: Nước là Dương, Núi là Âm.

Mạch cũng phân Âm Dương. Tả Ao viết:

Mạch có mạch Âm, mạch Dương

Mạch nhược, mạch cường, mạch tử, mạch sinh.

Mạch ở dưới đồng bằng phần nhiều đi thấp, được gọi là mạch Dương. Còn mạch ở trên sơn cước, đi theo các núi đồi cao lớn, được gọi là mạch Âm.

Những mạch Âm Dương đó lại được phân chia tùy theo hình, trạng thái hùng vĩ, thanh nhã, linh động, hoặc bất động, thành các mạch cường, nhược, tử, sinh.

- Thế mạch hùng vĩ, cao lớn, thảy đều là mạch cường.

- Thế mạch thanh nhã, nhọn dài được gọi là mạch nhược.

- Thế mạch trông như con thú quay đầu, quẫy đuôi, linh động được gọi là mạch sinh.

- Thế mạch đi đuồn đuộn, ngay đơ, như con cá chết gọi là mạch tử.

Hình thế đất cũng được chia thành 5 loại theo Ngũ Hành. Tả Ao viết:

Kìa như đất có Ngũ tinh,

Nhận xem cho biết tương sinh loan hoàn.

1. Hình tròn là con Kim, hay Kim Tinh

2. Hình dài là con Mộc hay Mộc Tinh

3. Hình vuông là con Thổ hay Thổ Tinh

4. Hình nhọn là con Hỏa hay Hỏa Tinh.

5. Hình sóng gợn là con Thủy hay Thủy Tinh.
Y học Trung Hoa cũng triệt để khai thác thuyết Ngũ Hành. Quan niệm Ngũ Hành soi sáng Y học Trung Hoa về mọi phương diện: Bệnh Lý (Pathogénie), Dược lý (Pharmacologie) và Y Lý Trị Liệu (Thérapeutique.)

Về phương diện Bệnh lý chẳng hạn, Trung Hoa chia năm thành Ngũ Vận.

Các năm Giáp, Kỷ thuộc Thổ

Các năm Ất, Canh thuộc Kim

Các năm Bính, Tân thuộc Thủy

Các năm Đinh, Nhâm thuộc Mộc

Các năm Mậu, Quí thuộc Hỏa

Rồi lại nhân lẽ Âm Dương, sinh khắc, thái quá, bất cập, hay bình khí mà suy xem năm nào khí hậu sẽ ra sao, nóng lạnh, ẩm, khô, mưa gió ra sao để biết những bệnh gì sẽ dễ sinh trong năm ấy.

Họ cho rằng các năm Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm là những năm Dương. Vận khí những năm ấy sẽ quá vượng, quá thịnh, sẽ thừa nên gọi là thái quá.

Những năm Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quí là những năm Âm. Vận khí những năm ấy sẽ suy yếu, sẽ bất cập, mà một hành đã suy, thì khí của hành tương khắc, sẽ thịnh. Ví dụ những năm Giáp (Dương Thổ), thổ khí sẽ thái quá, như vậy sẽ mưa nhiều và sẽ ẩm thấp nhiều, do đó các bệnh thấp sẽ dễ sinh.

Những năm Kỷ (Âm Thổ), Thổ khí sẽ bất cập, như vậy sẽ gió nhiều, do đó các bệnh phong dễ sinh, vì Hành khắc là Mộc, Mộc sinh Phong.

Những năm Tân lạnh nhiều (Âm Thủy), Thủy khí bất cập, nên ẩm thấp nhiều, và các bệnh thấp dễ sinh vì Hành khắc là Thổ, Thổ sinh Thấp.

Tóm lại ta thấy: Mộc thịnh sinh Phong, Hỏa thịnh sinh Nhiệt, Thổ thịnh sinh Thấp, Kim thịnh sinh Táo, Thủy thịnh sinh Hàn.

Còn khi một Hành mà suy, thì Hành tương khắc sẽ thịnh, cho nên:

Mộc suy (bất cập) thời Táo sinh (vì Kim khắc Mộc), Hỏa suy (bất cập) thời Hàn sinh (vì Thủy khắc Hỏa), Thổ suy thời Phong sinh (vì Mộc khắc Thổ), (xem thí dụ năm Kỷ) Kim suy (bất cập) thời Nhiệt sinh (vì Hỏa khắc kim), Thủy suy (bất cập) thời Thấp sinh (vì Thổ khắc Thủy). (Xem thí dụ năm Tân).

Dược lý cũng dựa trên Ngũ Hành:

Đại khái các thuốc màu xanh, vị chua chữa gan; các thuốc màu đỏ, vị đắng chữ tim; các thuốc màu vàng, vị ngọt chữa tì; các thuốc màu trắng, vị cay chữa phổi; các thuốc màu đen, vị mặn chữa thận v.v...

Trị liệu cũng dựa theo quan niệm Ngũ Hành tương sinh, tương khắc, hoặc Ngũ Hành điên đảo. Ví dụ:

1. Mẫu hư bổ kỳ Tử

Như Kim (Phế): vốn sinh Thủy (Thận), nhưng nếu Phế suy, phải bổ Thận (Thủy) để cứu Phế (Kim)

Thủy (Thận) vốn sinh Mộc (Gan), nhưng nếu Thận (Thủy) kiệt, thời phải bổ Gan (Mộc).

2. Tử hư bổ kỳ Mẫu

Thủy suy (Thận suy), phải bổ Kim (Phế) (mẹ)

Thổ suy (Tì suy), phải bổ Hỏa (Tâm) (mẹ)

Mộc suy (Gan), phải bổ Thủy (Thận) (mẹ)

Kim (Phế) táo, phải bổ Thổ (Tì) (mẹ)

Hỏa (Tâm) suy, phải bổ Mộc (Gan) (mẹ)

3. Mẫu thực tả kỳ Tử

Phế (Kim) (mẹ) thực, phải tả Thận Thủy (con)

Thận (Thủy) (mẹ) thực, phải tả Gan (Mộc) (con)

Gan (Mộc) (mẹ) thực, phải tả Tâm (Hỏa) (con)

Tâm (Hỏa) (mẹ) thực, phải tả Tỳ (Thổ) (con)

Tỳ (Thổ) (mẹ) thực, phải tả Phế (Kim) (con)

4. Tử thực, tả kỳ Mẫu

Thận (Thủy) (con) thực, tả Phế (Kim) (mẹ)

Gan (Mộc (con) thực, tả Thận (Thủy) (mẹ)

Tâm (Hỏa) (con) thực, tả Gan (Mộc) (mẹ)

Tỳ (Thổ) (con) thực, tả Tâm (Hỏa) (mẹ)

Phế (Kim) (con) thực, tả Tỳ (Thổ) (mẹ) v.v...

Đi sâu vào vấn đề, ta thấy các Y gia lại còn áp dụng lẽ Ngũ Hành điên đảo trong việc điều trị. Nhưng nơi đây, chúng ta cũng chẳng cần phải bàn rộng hơn về vấn đề đó làm chi nữa. Người nào có tâm cầu học, nhất định sẽ tìm sách mà tra cứu lấy.
(Nguồn: Kinh Dịch Đại Toàn, Tập I, Phần IX Ngũ Hành)